Chào mừng bạn đến với forum.minhha.vn, Nơi chia xẻ những thông tin bổ ích
Đăng ký  hoặc  Đăng nhập

Âm nhạc truyền thống Việt Nam trên thế giới

Âm nhạc

Âm nhạc truyền thống Việt Nam trên thế giới

Gửi bàigửi bởi Admin » Tháng bảy 14, 2012, 12:12 pm

GSTS. Trần Văn Khê
Âm nhạc truyền thống Việt Nam đi vào thế giới bằng nhiều ngõ: ngang qua những thiên du ký, những bài khảo cứu về dân tộc học, nhạc học in rải rác đó đây hay là trong những Bách khoa từ điển, những lần nhạc công Việt Nam tham dự hội chợ, hội nghị quốc tế, hay liên hoan âm nhạc, những dĩa hát, những hình ảnh, phim điện ảnh, băng từ, ghi âm, ghi hình, những chương trình truyền thanh truyền hình và những cuộc giao lưu văn hoá.

Tuy đi vào nhiều ngõ nhưng chỉ là những ngõ hẹp, ít khi đi đến quảng đại quần chúng, nếu không phải là những chương trình truyền thông đại chúng được phát sóng trong những giờ có đông đảo khán thính giả.

Vì vậy, đến ngày nay, rất còn nhiều người không biết rằng âm nhạc, kịch nghệ Việt Nam có một vị trí đặc biệt trong vùng Đông Á và Đông Nam Á, và không thể lầm lẫn với âm nhạc Trung Quốc, Nhựt Bổn hay Thái Lan. Và làm sao người thường dân Âu Mỹ có thể biết được những nét đặc thù, những tế nhị trong cấu trúc âm thanh, thang âm, điệu thức, tiết tấu để mà ưa thích, tìm nghe, thưởng thức sâu sắc và đánh giá đúng mức giá trị nghệ thuật của âm nhạc truyền thốngViệt Nam?

[align=center]Dài theo lịch sử ai đã ghé mắt nhìn âm nhạc truyền thống Việt Nam?[/align]

Từ xưa đến 1950

Xa xưa nhứt có lẽ ông Sứ thần của triều nhà Nguyên, từ cuối thế kỷ thứ 13, khi sang Việt Nam nghe tiếng trống đồng xúc động đến bạc tóc. Và ông có ghi lại những nhạc khí đã thấy tại Việt Nam trong đó có cây đàn một dây mà bản chữ Hán ghi là nhứt huyền cầm. Lê Quí Đôn đã ghi lại sự kiện ấy trong Kiến Văn Tiểu Lục.

Đến thế kỷ thứ 17, theo sách «Lịch sử mới, lạ của Vương quốc Đông Kinh và Lào» (Đông Kinh: dịch từ chữ Tonkin, tên của nước Việt người ngoại quốc thường dùng thời ấy) in ra năm 1666. Tác giả, ông de Marini đã viếng nước Việt và đã dự những buổi hát và múa trong truyền thống hát ả đào, ông đã ghi lại: «Giọng hát của các ả đào làm cho người nghe thích thú đến không ngủ được. Các cô muốn giữ cho giọng hát của mình được tốt, không ngại kiêng ăn thịt mà các cô rất thích, không ăn nằm với chồng hay tình nhân cả tuần trước ngày biểu diễn, tìm ăn những món có thể làm cho giọng hát đẹp hơn như ăn thịt ếch…Các cô lãnh được nhiều tiền. Nhiều khi được các quan cho làm hầu hay cả vua chúa, nếu thích giọng hát của các cô, có thể tuyển các cô vào cung, với tư cách cung nữ hay quí phi».

Đến thế kỷ thứ 18, vào năm 1789, khi Nguyễn Huệ thắng trận ở Đống Đa, vì không muốn vua nhà Thanh trả thù nên gởi một phái đoàn sang gặp vua Càn Long. Trong quyển Khâm định Đại Thanh Hội điển sự lệ, Quyển 538, tờ 3b, sử gia Trung Quốc có ghi một dàn nhạc mang tên là «An Nam quốc nhạc» (có lẽ vì vua Càn Long phong cho Nguyễn Huệ tước «An Nam quốc vương») có mặt trong 9 dàn nhạc được dùng trong cung đình nhà Thanh, mà thành phần giống như dàn Tiểu Nhạc có từ triều Nguyễn tới nay. Dàn nhạc đó có tấu nhiều bản cho vua Càn Long nghe. Đến khi vua Gia Long tức vị, năm 1802, đổi tên nước Việt thành Việt Nam, thì dàn nhạc dó cũng đồi tên là Việt Nam quốc nhạc.

Đến khi nước Việt bị Pháp đô hộ, trong số những nhà dân tôc học đến nghiên cứu âm nhạc dân gian Việt Nam có ông Georges Dumoutier. Năm 1890, nhà xuất bản E. Leroux tại Paris đã xuất bản một quyển sách dầy 215 trang về «Những bài hát và truyền thống dân gian của người An Nam». Tác giả chỉ ghi lại những nhận xét khách quan về âm nhạc dân gian.

Vào cuối thế kỷ thứ 19, tại cuộc Đấu xảo quốc tế tại Paris năm 1899, một nhạc sĩ lớn của nước Pháp Claude Debussy đã nghe nhạc của vài nước châu Á. Nhạc sĩ rất say mê nhạc Indonesia, và đã cho rằng nghệ thuật đối vị của các bè trong một bản nhạc Indonesia tinh vi đến đỗi nếu đem ra so sánh, thì nghệ thuật đối vị của nhạc sĩ Palestrina chỉ là một trò chơi của con nít. Claude Debussy có xem một buổi hát bội Việt Nam và câu ông ghi lại: «Chỉ có một cây kèn mà làm sôi động cả sân khấu», theo chúng tôi là một lời khen, vì dùng nhân lực tối thiểu mà gây hiệu quả tối đa!

Vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Pháp có phái một nhà nhạc học người Bỉ tên Gaston Knosp sang nghiên cứu âm nhạc các nước Đông Dương, tức Việt – Miên – Lào. Sau nhiều năm ở Đông Dương ông viết một bài đăng trong báo Le Mercure musical bên Pháp vào năm 1898, về những bài tình ca trong âm nhạc An Nam và một bản báo cáo rất đầy đủ, đăng trong một tạp chí dân tôc học của Đức Archiv für Ethnographie Quyển XX năm 1911 và Quyển XXI năm 1912 về chuyến công vụ nghiên cứu của ông. Bài đó được đăng lại trong Quyển Bách khoa âm nhạc và Từ điển của Nhạc viện do Albert Lavignac chủ biên, Quyển V.

Có thể nói rằng bài viết tựa là «Lịch sử âm nhạc trong các xứ Đông Dương» là một bài đầy đủ về các nhạc khí, các loại nhạc thính phòng, nhạc sân khấu, trong dân gian, trong cung đình của Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Trong phạm vi bài tham luận hôm nay, chúng tôi không dẫn ra những sai lầm của ông Gaston Knosp. Chỉ nói rằng ông rất chê âm nhạc Việt Nam, cho rằng thua nhạc Khmer rất xa về giai điệu và về tiết tấu.

Ông cho rằng giai điệu nhạc Việt Nam rất ngây ngô (naîveté), trẻ con (enfantine), vụng về (gauchement exprimée), thang âm không hoàn hảo (imperfection de la gamme), ông lại phân tích theo cách majeur mineur (trưởng, thứ) và cho rằng nhạc Việt Nam không theo luật lệ gì. Cách nhìn, cách nghe, cách nhận thức của ông đều sai và thiển cận, mà lại có lời phê phán thiên vị và không chính xác.

Ngược lại ông Ernest Le Bris học ca nhạc Huế phân tích âm nhạc thính phòng cũng như những điệu xẩm xoan, hay bản Tứ Đại Cảnh một cách trung thực khách quan và rất tôn trọng giá trị nghệ thuật của nhạc Việt Nam. Những bài viết của ông được đăng trong Tạp chí «Những người bạn của cố đô Huế» (Bulletin des Amis du Vieux Huế năm 1922 và 1927).

Hai ông P. Cadière và Orband nghiên cứu nhạc cung đình, chụp ảnh các dàn Đại nhạc, Tiểu nhạc từ lúc đầu thế kỷ 20, và qua mấy chục năm nghiên cứu về Tế Nam Giao.

Dài theo thời gian, những nhà dân tộc học tiếp tục tìm hiểu những bộ môn âm nhạc khác nhau: Georges Cordier sưu tầm ca dao, ông Jean Yves Clayes lắng nghe tiếng hát dân chài, ông Georges Coulet đi nghe hát bội và viết hai quyển sách về nghệ thuật hát bội và tổ chức vật chất của những gánh hát bội, Georges de Gironcourt có cái nhìn bao quát về dân ca các miền trong quyển «Địa dư âm nhạc trong toàn cõi Đông dương», Georges Condominas khai quật được nhiều thanh đá tại vùng Ndut Lieng Krak đem về Pháp và nhờ các nhà dân tộc nhạc học André Schaeffner, Jaap Kunst nghiên cứu cây đàn đá tiền sử về mặt nhạc học, Jacques Dournes nghiên cứu về âm nhạc dân tộc Gia Lai (Jorai), Pierre Huard Giáo sư thạc sĩ về Y học lại tìm hiểu về dàn chiêng của dân tộc Mnong ga, Maurice Durand sưu tập dân ca và đặc biệt các bài hát Chầu Văn.

Thường thì các nhà nghiên cứu dân tộc học, chỉ nhìn rất kỹ, ghi lại tường tận, đôi khi tỉ mỉ trong chi tiết, nhưng ít khi phê phán khen chê. Nhưng qua những bài viết chúng ta cũng thấy rằng các vị ấy không phải chỉ vì tánh tò mò, mà thật sự yêu mến dân ca cổ nhạc, kịch nghệ Việt Nam mới xem đi xét lại, có khi năm nầy sang năm nọ, thậm chí có người như ông Jacques Dournes đã hiến cả cuộc đời cho công việc nghiên cứu văn hoá của vùng Tây Nguyên và ông Maurice Durand cho văn hoá Việt Nam.

Có những người không phải nghiên cứu mà sưu tầm như bà De Hautecloque đã ghi âm rất nhiều nhạc dân tộc thiểu số trên Tây Nguyên, trao những băng ghi âm cho Bảo tàng Viện Guimet mà không có viết bài về các loại nhạc ấy.

Có những người sưu tập dĩa hát như ông Ch. Wolf,