Chào mừng bạn đến với forum.minhha.vn, Nơi chia xẻ những thông tin bổ ích
Đăng ký  hoặc  Đăng nhập

Cao Văn Lầu có phải khai sinh ra cải lương?

Âm nhạc

Cao Văn Lầu có phải khai sinh ra cải lương?

Gửi bàigửi bởi Admin » Tháng sáu 14, 2012, 10:52 pm

Cố nghệ sĩ Cao Văn Lầu
Cố nghệ sĩ Cao Văn Lầu là cha đẻ của bài Dạ Cổ Hoài Lang chứ không phải là ông tổ của ngành cải lương

Trong một buổi gặp gỡ các bạn trẻ sinh viên yêu thích cải lương và âm nhạc truyền thống, các bạn đặt câu hỏi: "Nhạc sĩ Cao Văn Lầu là cha đẻ bản Dạ cổ hoài lang, vậy ông có phải là ông tổ của ngành cải lương"?

Ông Cao Văn Lầu tức Sáu Lầu sinh ngày 22/12/1892 tại xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, sau sát nhập với làng Thuận Lễ trở thành xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Năm 1901, ông Cao theo gia đình đến lập nghiệp tại Bạc Liêu rồi ở luôn tại đây cho đến hết đời (ông qua đời ngày 13/8/1976). Thuở nhỏ, ông học chữ nho rồi học chữ quốc ngữ đến "lớp nhì năm thứ hai" (Cours moyen 2e année) tức lớp 4 ngày nay; sau đó quy y tại chùa Vĩnh Phước - Bạc Liêu. Sau khi rời cửa Phật, ông học nhạc lễ và là một trong những môn đệ giỏi về nhạc lễ của nhạc sư Lê Tài Khị (Nhạc Khị). Ông sử dụng rành rẽ đàn tranh, cò, kìm và trống lễ. Nhắc đến ông, người ta nhớ ngay đến bản Dạ cổ hoài lang (1919) được xem là tiền thân của bản vọng cổ ngày nay. Ông viết bản nhạc trên gồm 20 câu, nhịp 2 để trút cạn nỗi niềm tâm sự.

Nỗi niềm ấy đã nhiều lần ông thổ lộ với bạn tri âm: "Tôi đặt bài này bởi tôi rất thương vợ. Năm viết bản Dạ cổ hoài lang, tôi đã ăn ở với vợ tôi được 3 năm mà không có con. Tam niên vô tử bất thành thê. Vợ chồng ăn ở với nhau trong 3 năm, vợ không sinh con, chồng được quyền bỏ để cưới người khác hầu có con nối dõi tông đường. Thời phong kiến có những quan niệm chưa đúng. Người ta cho rằng vợ chồng không sinh con là do lỗi của người đàn bà.

Tiếng ra, tiếng vào của gia đình buộc tôi phải thôi vợ, nhưng tôi không đành. Tôi âm thầm chống lại nghiêm lệnh của gia đình, không đem vợ trả về cho cha mẹ mà đem gởi đến một gia đình có tấm lòng nhân hậu, xót thương cho vợ chồng tôi gặp phải cảnh đau lòng mà cho ở đậu qua ngày, với hy vọng vợ chồng tôi sẽ có con và chiến thắng cái quan niệm khắc nghiệt, lạc hậu, chịu ảnh hưởng nặng đạo lý thời phong kiến”. Trong thời gian dài, phu thê phải cam chịu cảnh “Đêm đông gối chiếc cô phòng", tâm tư nặng trĩu u buồn nên nhạc sĩ Sáu Lầu đêm đêm mượn tiếng đàn nắn nót đôi câu bớt cơn phiền muộn. Ông thừa hiểu người bạn đời cũng đau xót như ông. Bản Dạ cổ hoài lang ra đời trong bối cảnh như thế.

Trong thời gian tác phẩm chưa hoàn chỉnh, nhạc sĩ Sáu Lầu cùng anh em tài tử địa phương đàn tới đàn lui bản này, lấy ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp về phương diện sáng tác. Chuông, trống "công phu" ngân vang khiến anh em nhạc sĩ đất Bạc Liêu nhớ lại hồi chín, mười tuổi, ông Sáu Lầu quy y làm "Sa di" tại chùa Vĩnh Phước. Chú tiểu từng đánh trống, dộng chuông công phu hai buổi sớm chiều. Do đó, anh em đề nghị thêm hai chữ "Dạ cổ" (tiếng trống về đêm) cho ý nghĩa thêm sâu đậm. Ông Sáu hoan nghênh nên bản nhạc có tên hoàn chỉnh là "Dạ cổ hoài lang", tức "Đêm nghe tiếng trống nhớ chồng".

Dạ cổ hoài lang khởi điểm từ nhịp 2. Đó là đứa con của nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Nhưng khi Dạ cổ hòa nhập vào sân khấu cải lương thì hai soạn giả tiền phong góp công đầu để biến bản nhạc này từ nhịp 2 trở thành nhịp 4 là Huỳnh Thủ Trung (tức Tư Chơi)Mộng Vân (Trần Tấn Trung). Tiếng nhạn kêu sương là bản Vọng cổ hoài lang nhịp 4 đầu tiên do soạn giả Huỳnh Thủ Trung (1907-1964) sáng tác vào năm 1925. Trên những chặng đường phát triển, khi Vọng cổ hoài lang được nâng lên nhịp 8 (từ khoảng năm 1934 đến 1944) thì nó có tên mới là Vọng cổ, không còn đuôi hoài lang. Từ khoảng 1944-1954, vọng cổ tăng lên nhịp 16; thời kỳ kế tiếp: 1955 - 1964: tăng lên nhịp 32 rồi nhịp 64 từ năm 1965 đến nay.

Hậu thế đã nhận định như sau: Nhạc sĩ Cao Văn Lầu là cha đẻ Dạ cổ hoài lang khởi điểm từ nhịp 2. Bản Vọng cổ từ nhịp 4 trở đi, trên những chặng đường phát triển, thuộc công trình chung của tài tử tứ phương. Còn ông tổ cải lương dứt khoát không phải là Cao Văn Lầu. Bản Dạ cổ hoài lang chào đời năm 1919, trong khi sân khấu cải lương ra đời khoảng năm 1916.

Nghệ thuật Cải lương gắn liền với Đờn ca tài tử khoảng cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20.


[align=right](Sưu Tầm)[/align]
Hình ảnhChào bạn! Chúc bạn nhiều may mắn và sức khỏe để tham gia và đóng góp thêm bài viêt cho diễn đàn!
Hình đại diện của thành viên
Admin
Site Admin
 
Bài viết: 948
Ngày tham gia: Tháng hai 26, 2012, 12:38 am
Đến từ thành phố: HCM City
Điểm (Points): 12
Giới tính: Nam (Male)
Handphone: 0

Re: Hồi ký 50 năm mê hát, năm mươi năm cải lương

Gửi bàigửi bởi Prebronzer » Tháng sáu 16, 2012, 1:29 pm

Nhân cuối tuần tán dóc cho vui về cũng về cải lương.

Học giả Vương Hồng Sển vốn là một công chức, nhưng sau ông về hưu sớm để chuyên tâm về văn nghệ...Ông thích khảo cứu về hát bội, cải lương, nghệ thuật chơi cổ ngoạn. Quyển hồi ký 50 năm mê hát của Vương Hồng Sển in lần thứ nhất vào năm 1968 (cơ sở Phạm Quang Khai)...Cuốn hồi ký đặc biệt ở chỗ: tác giả không nói nhiều về đời tư mà đề cập đến lịch sử cải lương Nam Bộ từ ngày sơ khai đến thời hoàng kim, cực thịnh qua cái nhìn, cách sống của một con người yêu môn nghệ thuật này với tất cả sự mê đắm...


Lọ mọ tìm trên mạng thấy có một cuốn này ở dạng Audio Book, với 9 phần :

Tác giả: Vương Hồng Sển
Người đọc: Thanh Nguyệt
Kỹ thuật: Nguyễn Khánh Quốc
(9 phần)


LINK MEDIAFIRE:
http://www.mediafire.com/?xjbdtz53os7cgoq
http://www.mediafire.com/?hu5by1hd5h9jjx8
http://www.mediafire.com/?tm12ywmaxed5vb7
http://www.mediafire.com/?otnxay8pzd8thz6
http://www.mediafire.com/?le5c7lg5ncbnd13
http://www.mediafire.com/?3tegbrzptbozy7p
http://www.mediafire.com/?la8do8cytkfq1lq
http://www.mediafire.com/?r7mfqyccrbdbgeb
http://www.mediafire.com/?e6whckc5agn3cao

Chia sẻ cùng bà con, nhưng ai muốn biết nhưng lười đọc :D
RANDOM_AVATAR
Prebronzer
Thành viên tích cực
Thành viên tích cực
Đến cấp kế tiếp:
90%
 
Bài viết: 95
Ngày tham gia: Tháng ba 30, 2012, 5:34 am
Đến từ thành phố: Hanoi
Điểm (Points): 0
Giới tính: Nam (Male)
Handphone: 0

Re: Cao Văn Lầu có phải khai sinh ra cải lương?

Gửi bàigửi bởi Admin » Tháng sáu 28, 2012, 5:01 pm

Tiếp theo sau bài Dạ Cổ Hoài Lang nhịp 2 là bài TIẾNG NHẠN KÊU SƯƠNG.
Đây là bài Vọng Cổ Hoài Lang nhịp 4 đầu tiên do ông Huỳnh tấn Trung (Tư Chơi) và Mộng Vân (Trần Tấn Trung) sáng tác
Ca sĩ: Hoài Sang
Dàn nhạc: NSƯT Tư Còn, Bích Hiền, Dương Thanh Phương

Hình ảnhChào bạn! Chúc bạn nhiều may mắn và sức khỏe để tham gia và đóng góp thêm bài viêt cho diễn đàn!
Hình đại diện của thành viên
Admin
Site Admin
 
Bài viết: 948
Ngày tham gia: Tháng hai 26, 2012, 12:38 am
Đến từ thành phố: HCM City
Điểm (Points): 12
Giới tính: Nam (Male)
Handphone: 0

BÀI VỌNG CỔ NHỊP 8 ĐẦU TIÊN

Gửi bàigửi bởi Admin » Tháng sáu 28, 2012, 5:14 pm

Bài vọng cổ nhịp 8 đầu tiên có tên gọi là "VĂNG VẲNG TIẾNG CHUÔNG CHÙA" hay còn gọi là "VÌ TIỀN LỖI ĐẠO" do nghệ sĩ Lư Hòa Nghĩa (tức Năm Nghĩa) sáng tác năm 1934

[align=center]
[/align]

Có một số bài bản cổ nhạc ở Bạc Liêu, lúc mới sáng tác tác giả không đặt tên, thường thì sau khi sáng tác hoặc sau một thời gian lưu hành mới được người khác đặt tên. Kể cả các tác phẩm nổi tiếng như Dạ cổ hoài lang của ông Cao Văn Lầu cũng do nhà sư Nguyệt Chiếu đặt tên, Liêu giang là bản đắc ý nhất của ông Ba Chột cũng do Nhạc Khị đặt tên, Hứng trung thinh của ông Tư Bình cũng được thầy đặt tên ..., nhưng không phải cái tên nào cũng được sử dụng rộng rãi và được mọi người công nhận, như trường hợp bản Dạ cổ hoài lang.

Theo lời kể của ông Cao Kiến Thiết (con ông Cao Văn Lầu) trong cuộc hội thảo về Cao Văn Lầu tại Bạc Liêu năm 1989 thì bản này sau khi ra đời được ít lâu, ông Trần Xuân Thơ (Thầy Thống) đề nghị đổi tên là Vọng cổ hoài lang, thế mà từ đó đến nay người ta vẫn gọi theo tên cũ là Dạ cổ hoài lang (mãi đến khi bản Dạ cổ hoài lang biến nhịp, ông Trịnh Thiên Tư đề nghị đổi gọi Vọng cổ mới được sự hưởng ứng của mọi người và được sử dụng cho đến ngày nay). Hai mươi câu Vọng cổ Văng vẳng tiếng chuông chùa do nghệ sĩ Lư Hòa Nghĩa sáng tác năm 1934 cũng được ra đời trong trường hợp tương tự như thế. Nhưng mới đây có người nói rằng bài Vọng cổ nhịp 8 đầu tiên 20 câu này không phải mang tên "Văng vẳng tiếng chuông chùa" và còn tình nghi rằng tác giả của nó không phải là nghệ sĩ Lư Hòa Nghĩa.

Thực ra, lúc mới ra đời bài Vọng cổ này cũng không có tên, tác giả đã dùng năm chữ đầu của câu 1 là Văng vẳng tiếng chuông chùa để làm tên gọi của bài ca này, các nghệ sĩ ở Bạc Liêu đều gọi theo như thế. Mãi đến bốn năm sau (1938), khi bài Vọng cổ này được thu vào đĩa Asia (1) lại được đổi tên thành "Vì tiền lỗi đạo" (không rõ do ông Ngô Văn Mạnh chủ hãng đĩa đặt tên hay do ai đặt ra), nhưng từ đó đến nay người ta cứ quen gọi theo tên cũ, thậm chí có rất nhiều người không biết Vì tiền lỗi đạo là bài ca nào.

Kể cả ông Cao Văn Lầu một ngôi sao sáng của cổ nhạc Nam bộ cũng không gọi bài vọng cổ này là Vì tiền lỗi đạo mà ông vẫn gọi Văng vẳng tiếng chuông chùa, trong Lời giới thiệu sách Ca nhạc cổ điển của soạn giả Trịnh Thiên Tư, ông Cao Văn Lầu đã viết “Để hưởng ứng với đồng nghiệp, tôi nể tình ông bạn Trịnh Thiên Tư, cho đăng bản nhạc Vọng cổ và lời ca của tôi trong sách này, là nhạc phẩm căn bản nhịp tư, mà chư nhạc sĩ tứ phương dần dần mở ra lơi ra nhịp 16 (bắt đầu lời ca Văng vẳng tiếng chuông chùa của kịch sĩ Năm Nghĩa) đến nhịp 32 và 64” (2). Nhà nghiên cứu Trần Tử Văn cũng dẫn lời bên trên của ông Cao Văn Lầu trong bài Vọng cổ bản nhạc vua trên sân khấu ca kịch của ông trên Tạp chí Tin Văn (3).

Nhà nghiên cứu Trần Văn Khải trong tác phẩm Nghệ thuật sân khấu Cải lương cũng nói “Trong thời kỳ nhịp tám bản Vọng cổ được phổ bíên khắp Nam phần nhờ nghệ sĩ Lư Hòa Nghĩa tức Năm Nghĩa, mở màn với lối ca chậm rãi và ngân nga nhiều ở mấy chữ cuối câu. Sau đây là bản Gánh nợ đời của Năm Nghĩa ca độc chiếc đồng thời với bản Văng vẳng tiếng chuông chùa cùng một ca sĩ” (4).

Nhạc sĩ Trương Bỉnh Tòng – Giám đốc trung tâm nghiên cứu cải lương Thành phố Hồ Chí Minh cũng gọi như vậy, trong tác phẩm Nhạc tài tử Nhạc sân khấu Cải lương, ông viết “ Vọng cổ nhịp 8, bài ca Văng vẳng tiếng chuông chùa của nghệ sĩ Năm Nghĩa …” (5). Tiếp theo, trong tác phẩm Nghệ thuật Cải lương những trang sử, nhạc sĩ Trương Bỉnh Tòng cũng nói “Dạ cổ hoài lang từ nhịp 2 đã mở ra đến nhịp 4, cho đến 1935 – 1936 lại mở ra đến nhịp 8, tác phẩm đầu tiên là Văng vẳng tiếng chuông chùa, do Năm Nghĩa ca tại Bạc Liêu rồi được thu đĩa phát hành trong cả nước” (6).

Hai nhà nghiên cứu Trần Minh Tiên và Lê Minh Chánh, trong tác phẩm Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Cải lương có đoạn viết “ Nghệ sĩ Lư Hòa Nghĩa (tức Năm Nghĩa) với giọng ca bài Vọng cổ 20 câu Văng vẳng tiếng chuông chùa…” (7).

Nghệ nhân lão thành Lâm Tường Vân khi viết cuốn Nhạc sĩ Cao Văn lầu với bài Dạ cổ hoài lang, thêm một lần nữa ông đã xác nhận “Năm Nghĩa tức cảnh sáng tác bài ca Vọng cổ Văng vẳng tiếng chuông chùa nhịp 8 … bài Văng vẳng tiếng chuông chùa là tâm trạng của tác giả, trong cảnh cô đơn lại nghe tiếng chuông chùa công phu… Thế là từ đó mở ra kỷ nguyên ca vọng cổ, thu đĩa hát ở Sài Gòn mà người đầu tiên là Lư Hòa Nghĩa” (8).

Giáo sư Trần Quang Hải (con Giáo sư Trần Văn Khê) trả lời phỏng vấn của Hoài Âm. Bài đã đăng trong forum của Vietsciences-free.fr và đã được đăng lại trên Wikipedia tiếng Việt về thảo luận Cải lương (download ngày 1/7/2006) trong đó có một đoạn “… tới năm 1935 – 1937 nghệ sĩ Năm Nghĩa chính thức phổ biến trong giới yêu Cải lương qua bài Vọng cổ Văng vẳng tiếng chuông chùa”.

Nghệ sĩ Thanh Nga khi chép lại bài ca của cha cũng ghi như thế; nghệ sĩ Bảo Quốc người con trai đầu lòng của tác giả bài Vọng cổ đầu tiên này cũng gọi không khác hơn; hầu hết nghệ nhân nghệ sĩ, những nhà nghiên cứu ở Bạc Liêu và nhiều tỉnh khác từ trước đến nay đều gọi Văng vẳng tiếng chuông chùa. Trong thời gian gần đây, cũng có một số người nói nghệ sĩ Năm Nghĩa sáng tác bài Vọng cổ nhịp 8 này ở một địa điểm khác, nhưng về tên gọi thì vẫn thống nhất là Văng vẳng tiếng chuông chùa.

Qua các chứng cứ bên trên đủ thấy cái tên Văng vẳng tiếng chuông chùa đã được dùng rất phổ biến. Vì vậy chúng tôi cho rằng nếu dùng cái tên mà ít người biết để thay cho cái tên đã phổ cập đại chúng là điều không hợp lý, cho nên sau khi so sánh, chúng tôi vẫn dùng cái tên cũ là Văng vẳng tiếng chuông chùa để gọi bài Vọng cổ nhịp tám đầu tiên này. Còn về về việc tình nghi tác giả của bản Vọng cổ này là người khác thì trong đoạn văn trên, ông Cao Văn Lầu không những xác nhận bài Vọng cổ đầu tiên này mang tên Văng vẳng tiếng chuông chùa mà còn xác nhận tác giả của bài ca chính là nghệ sĩ Năm Nghĩa. Thực ra, đối với vấn đề này ông Cao Văn Lầu hiểu rõ hơn ai hết, vì Năm Nghĩa vừa là là người đồng hương vừa là bạn vong niên của ông, hai người qua lại rất thân thiết và chính Năm Nghĩa đã sáng tác bài Văng vẳng tiếng chuông chùa tại nhà của ông. Hơn nữa với tư cách và vị trí của ông Cao Văn Lầu thì lời nói của ông không thể sai sự thật.

Bài Vọng cổ Văng vẳng tiếng chuông chùa sau khi thu đĩa và phát hành đã được thính giả các nơi hoan nghênh nhiệt liệt, lúc đầu đĩa không đủ bán, hãng đĩa phải tái bản nhiều lần mới đáp ứng được nhu cầu của giới mộ điệu. Nhưng sau đó bản Vọng cổ được cách tân thành nhịp 16, nhịp 32… nhiều bài vọng cổ khác tiếp tục ra đời trở nên mùi hơn và nhất là khi Năm Nghĩa qua đời (1959) thì bài Vọng cổ nhịp 8 đầu tiên này dần dần chìm trong quên lãng. Năm 1997, chúng tôi tiến hành sưu tầm nghiên cứu cuộc đời của các tác giả cổ nhạc Bạc Liêu và ghi chép lại các bài bản do các vị sáng tác. Riêng bài Văng vẳng tiếng chuông chùa có một vị trí rất đặc biệt trong quá trình phát triển cổ nhạc vì vậy chúng tôi đặc biệt lưu ý sưu tầm, nhưng mặc dù nhóm biên soạn đã đi qua nhiều tỉnh ở hai miền Nam Bắc suốt một thời gian dài, tìm tòi tư liệu từ trong đến ngoài nước, gặp gỡ nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nghệ nhân nghệ sĩ lão thành, trong đó có cả thân nhân của nghệ sĩ Năm Nghĩa, nhưng cũng chỉ sưu tầm được vỏn vẹn có sáu câu đầu trong tổng số 20 câu của bài Vọng cổ (theo nghệ sĩ Bảo Quốc thì đây là sáu câu do Thanh Nga ghi lại lúc còn sinh thời). Chúng tôi vẫn tiếp tục sưu tầm bài Vọng cổ nhịp 8 này, nhưng suốt chín năm dài khó nhọc, tốn rất nhiều công phu nhưng bài ca cổ vẫn bặt vô âm tín, vẫn biền biệt xa vời. Mãi đến cuối năm 2006, trong một dịp tình cờ khi đến xứ Đồng Tháp tôi được ông bạn Đinh Công Thanh cho mượn một số sách báo cũ trong đó có tờ báo Mai xuất bản năm 1938, một số đĩa đá và một cuồn băng có lưu nhiều bài Vọng cổ xưa. Từ những tư liệu này tôi mới tìm được “tung tích” và thời điểm thu đĩa của bài Vọng cổ đã nhiều năm tìm kiếm, đồng thời cũng đã nghe được giọng ca của nghệ sĩ Năm Nghĩa qua 20 câu Văng vẳng tiếng chuông chùa (9). Ôi ! cảm động làm sao khi chính tai mình nghe được lời ca đã phát ra từ hơn sáu mươi năm trước, những câu văn mộc mạc bình dân nhưng chan chứa nghĩa tình, nghe được những tiếng hơ … hơ … kéo dài thật tuyệt vời và độc đáo của một nghệ sĩ tiền bối đã mở ra mở ra kỷ nguyên Vọng cổ và đã cống hiến cả một cuộc đời cho sự nghiệp Cải lương.


Chú thích :
(1) Theo Trần Minh Tiên và Lê Minh Chánh thì bài Văng vẳng tiếng chuông chùa với giọng ca của Nghệ sĩ Năm Nghĩa được thu vào đĩa hát Béka của ông Jile Kellèr, người Đức ở đường Mác Mahon vào năm 1936 (Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Cải lương, Sở Văn hóa Thông tin Long An – 1989, trang 118). (đường Mác Mahon sau đó được đổi tên là Công Lý và ngày nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa).
(2) Trịnh Thiên Tư, Ca nhạc cổ điển, xuất bản năm 1962, trang 3.
(3) Tạp chí Tin Văn số 13 – 1966, trang 128.
(4) Trần Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Cải lương, Nhà sách Khai Trí – 1966, trang 121.
(5) Trương Bỉnh Tòng, Nhạc tài tử Nhạc sân khấu cải lương, NXB Sân Khấu – 1996, trang 58.
(6) Trương Bỉnh Tòng, Nghệ thuật Cải lương những trang sử, Viện Sân Khấu – 1997, trang 85 – 86.
(7) Trần Minh Tiên và Lê Minh Chánh, Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Cải lương, Sở Văn hóa Thông tin Long An – 1989, trang 118.
(8) Lâm Tường Vân, Nhạc sĩ Cao Văn lầu với bài Dạ cổ hoài lang, NXB Mũi Cà Mau – 2000, trang 59.
Hình ảnhChào bạn! Chúc bạn nhiều may mắn và sức khỏe để tham gia và đóng góp thêm bài viêt cho diễn đàn!
Hình đại diện của thành viên
Admin
Site Admin
 
Bài viết: 948
Ngày tham gia: Tháng hai 26, 2012, 12:38 am
Đến từ thành phố: HCM City
Điểm (Points): 12
Giới tính: Nam (Male)
Handphone: 0

Khái quát về nhịp trong Vọng Cổ

Gửi bàigửi bởi Admin » Tháng sáu 28, 2012, 5:51 pm

Vọng cổ, hay vọng cổ Bạc Liêu, là một điệu nhạc rất thịnh hành ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Việt Nam. Nó được bắt nguồn từ bài "Dạ Cổ Hoài Lang" (nghe tiếng trống đêm, nhớ chồng) của nghệ sĩ Cao Văn Lầu (tức Sáu Lầu). Bản vọng cổ là một trong những điệu nhạc căn bản của sân khấu cải lương.

Sơ lược nguồn gốc

Bài "Dạ cổ hoài lang" có 20 câu, hai nhóm đầu mỗi nhóm 6 câu, hai nhóm sau mỗi nhóm 4 câu. Mỗi câu trong bài có 2 nhịp, gọi là nhịp đôi.

Ngay từ thời chỉ mới có nhịp đôi, bản "Dạ cổ hoài lang" đã được đặt lời khác. Việc đặt (ngôn ngữ nhạc Việt gọi là "soạn") lời ở các bản cổ nhạc không giống như đặt lời tân nhạc. Một bài tân nhạc khi đặt lời thì theo sát câu nhạc của lời trước, tức là theo đúng hay rất sát nốt nhạc trong mỗi stanza. Đặt lời một bản cổ nhạc giống như làm bài thơ họa: Theo đúng nốt nhạc (ngôn ngữ nhạc Việt gọi là chữ nhạc) ở cuối câu (chỗ dứt nhạc) và theo giọng bình - trắc ở những chữ đó.

Câu 2 nhịp, tuy nhiên, không thỏa mãn được nhu cầu của các nhà soạn nhạc. Bản nhạc (bản vọng cổ luôn gọi là "bản", không gọi là "bài") được tăng lên 4 nhịp, tức nhịp tư, trong khoảng thời gian 1927-1935. Sau đó tăng lên nhịp tám năm 1936-1945, và cũng khoảng thời gian này được mang tên bản "Vọng cổ". Từ nhịp tám lên nhịp 16, 32, 64, 128, ... Bản thông dụng nhất hiện nay là bản nhịp 32. Sở dĩ bài vọng cổ mỗI ngày càng kéo dài nhịp thêm ra là để tăng sức diễn cảm, để chở hết nộI dung cuộc sống, tâm lý, tình cảm…của con người thời đại, và sau hết để ngườI hát thuận lợI , dễ dàng biểu hiện đầy đủ nhất tình cảm của mình thông qua bài hát.

Bản vọng cổ nhịp đôi, nhịp tư chỉ theo sát chữ nhạc ở chỗ dứt câu. Nhưng khi bản nhạc có nhiều nhịp, phải theo đúng chữ nhạc ở một số nhịp nhất định.

Thí dụ, câu 1 của bản nhịp đôi chỉ cần dứt ở chữ cống, theo chuẩn của bản Dạ cổ hoài lang.

Nhưng câu 1 của bản nhịp 32 phải có chữ hò ở nhịp 16, hò ở 20, xê ở 24, xang ở 28, cống ở 32. Ở bản 32 nhịp, tất cả các câu đều có xề (gọi là "xuống" xề) ở nhịp 4. (Trên thực tế, bản 32 nhịp thường câu 1 và 4 ngắn, chỉ có 16 nhịp sau, còn 16 nhịp đầu nói thơ hoặc nói lối hoặc xen tân nhạc.

Khi câu nhạc còn ngắn, bản nhạc chỉ gieo vần ở cuối câu. Lên tới nhịp 32, 64, các soạn giả bắt đầu gieo vần liên kết bên trong mỗi câu.

Các bản vọng cổ nhịp 2, 4, v.v.

Cùng với việc tăng số nhịp trong mỗi câu, bản vọng cổ ngày càng đa dạng thêm nhờ sự sáng tạo của các soạn giả, các nghệ sĩ làm bản vọng cổ ngày nay rất phong phú.

Vọng cổ nhịp đôi

Bản Vọng cổ nhịp đôi tức là bản Dạ cổ hoài lang nguyên thủy.

Sáu câu đầu trong bản này như sau, vần gieo mỗi câu một lần (trong đó có câu vần lưng tức yên vận):

1. Từ là từ phu tướng,
2. Bảo kiếm sắc phong lên đàng.
3. Vào ra luống trông tin chàng.
4. Năm canh mơ màng.
5. Em luống trông tin chàng,
6. Ôi gan vàng quặn đau.

Sáu câu này có sáu chữ dứt câu như sau:

1. .......... cống
2. .......... xang
3. .......... hò
4. .......... hò
5. .......... xề
6. .......... liu

Những chữ nhạc này được dùng trong tuồng "Tham phú phụ bần" như sau:

1. (Đào:) Vì đâu nên xui khiến (cống)
2. Cha nỡ rẽ thúy chia uyên (xang)
3. Làm cho đôi ta đeo phiền (hò)
4. Mang nặng lời nguyền (hò)
5. (Kép:) Đành cam đứt câu nghĩa tình (xề)
6. Trên Thiên Hoàng xin chứg minh (liu)

...

Tới hết 20 câu thì hết bản.

Vọng cổ nhịp tư

Nhịp tư bắt đầu có từ năm 1927. Từ bản này, vọng cổ bước một bước thay đổi quan trọng: Chữ nhạc trong bài không theo hơi Bắc (tức Bắc chánh) nữa mà đổi sang hơi Bắc Oán. Dưới đây là sáu câu đầu bản "Khúc oan vô lượng" của soạn giả Huỳnh Thủ Trung tức Tư Chơi.

1. Đêm nào ngọn đèn khuya, mẹ đây chong trắng đĩa
2. Chàng ôi, nếu có gặp nhau họa chỉ trong giấc mộng huỳnh lương
3. Trời đất ôi! Vợ chồng tôi đang vui câu đầm ấm nơi cảnh gia đường
4. Vì ai gieo oan mà để cho thiếp phải cam dồn dập nơi khốn cảnh đoạn trường
5. Hơn bốn năm trường tựa nơi canh cửa thiếp trông chờ
6. Đã biết rằng tuyệt vô hy vọng mà lòng mong thiếp những hoài mong

...

Vọng cổ nhịp tám

Bản nhịp tám, từ năm 1936, bắt đầu ngân nga hơn bản nhịp tư. Người góp công làm bản nhịp tám được công chúng ưa chuộng phải kể đến nghệ sĩ Lưu Hoài Nghĩa tức Năm Nghĩa. Nhiều bản tuồng nhịp tám tới nay vẫn còn nổi tiếng, như bản "Tô Ánh Nguyệt" của soạn giả Trần Hữu Trang:

1. Sau khi tôi có chết đi rồi, xin Cậu chứng kiến cho tấc lòng tôi mà tỏ hết khúc nói cho ai kia được rõ nỗi khổ tâm của tôi trước giờ tôi nhắm mắt
2. Dưới nấm mộ xanh, thân người mạng bạc, ngàn muôn năm linh hồn tôi họa chăng được tiêu tan khối hận chốn tuyền đài
3. Mười tám năm dư lắm lúc tôi muốn vạch mặt phơi gan mà than thở với đất trời
4. Nhưng mà mối hận tình nó nấu nung trong tim phổi, nghĩ bao nhiêu tội lỗi, gặp mặt ai tôi nói chẳng nên lời
5. Ngày hôm nay, tôi sắp lìa xa bao nhiêu kẻ thân yêu quý mến mà từ giã cõi đời
6. Cậu ôi, tôi nhờ cậu nói lại với má thằng Tâm rằng tôi mong giũ sạch nợ trần ai đặng thoát ra khỏi vòng tình thiên hận hải, vậy tôi xin có một đôi lời nhắn nhủ cùng với ai.

...

Vọng cổ nhịp mười sáu

Tới bản mười sáu, từ năm 1946, mỗi câu bắt đầu dài, như sáu câu sau đây trong "Tôn Tẫn giả điên", nổi tiếng với giọng ca Út Trà Ôn:

1. Úy trời đất ôi! Nỗi đoạn trường, cũng vì tôi đây quá tin thằng Bàn Quyên là bạn thiết cho nên ngày hôm nay thân của tôi phải ra nông nỗi
2. Còn như công cuộc ngày hôm nay đây, bởi tôi không cẩn thận cho nên bạn tôi nó mới đành nhẫn tâm chặt lấy một bàn chơn tôi
3. Khi tôi còn ở trên non thì tôi quyết ẩn thân tu tâm dưỡng tánh, luyện thuốc trường sanh mong thành chánh quả đặng có tọa hưởng Bồ Đoàn
4. Nào hay đâu thằng Bàn Quyên nó lên năn nỉ ỷ ôi, lời ngon tiếng ngọt, nó nói rằng chúa của nó là một đấng minh quân chơn mạng. Bởi vậy cho nên nó bảo tôi một một, hai hai cũng phải xuống mà đầu hàng.
5. Cho nên khi ấy tôi mới hạ san, thì thầy của tôi có cho tôi một bức cẩm nang lại dặn tôi rằng: Hễ khi nào lâm nạn thì dở ra xem rồi liêu> chước biến quyền
6. Vậy thì tôi đây vọng nguyện với Tôn sư, khai thơ cứu mạng. Ủa sao tôi chẳng thấy điều chi lạ, chỉ thấy trong thơ có một chữ "Cuồng". Ờ, ờ, phải rồi, đây thầy tôi bảo tôi giả điên đặng có thoát thân.

Thời kỳ vọng cổ nhịp mười sáu cũng là lúc câu vọng cổ có trộn vô những câu nói thơ (tức ngâm thơ, theo điệu Tao Đàn hoặc Vân Tiên) và những câu hò. Đây là sáng kiến của nghệ sĩ Út Trà Ôn ảnh hưởng cho tới nay. Trong bản "Tôn Tẫn giả điên", Út Trà Ôn nói thơ trong câu 11-12 và hò trong câu 13 như sau:

11. Bây giờ buồn quá, để nói thơ cho bà con cô bác nghe chơi: Buồn cười vua Trụ đa đoan, mê nàng Đắc Kỷ rồi giết oan hết cả trào. Nói qua tới lớp vua U mà yêu ấp ả má đào

12. Ẵm ôm nàng Bao Tỉ giặc vào cũng không hay. Còn vua Kiết có tánh rồi hay say, nghe lời của Muội Hỷ mà lại giết ngay tôi Long Phùng.

13. Hò hơ... chết tôi, tôi chịu xin đừng bận bịu bớ điệu chung tình. Hò hơ... con nhạn bay cao rồi khó bắn, hò hơ... con cá ở ao quỳnh cũng khó câu...

Từ khi có bản vọng cổ mười sáu nhịp, câu nhạc đã bắt đầu đa dạng phong phú.

Vọng cổ 32 nhịp

Bản vọng cổ 32 nhịp, từ năm 1955, là bản vọng cổ được coi là tiêu chuẩn hiện nay, mặc dù cũng đã xuất hiện bản 64 nhịp và 128 nhịp.

Từ bản 32 nhịp, mỗi câu bắt đầu có vần gieo ngay trong câu, vì 32 nhịp là một quãng quá xa để chỉ có một vần. Câu dưới đây trong bản "Nắng chiều quê ngoại" của soạn giả Viễn Châu là một thí dụ:

1. Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rủ bóng đang vươn lên ngọn khói lam chiều. Cảnh hoàng hôn sao nhuộm vẻ tiêu điều. Khóm lau thưa xào xạc trên lối đường mòn vẳng lặng cô liêu; nhà Ngoại tôi khuất sau mấy lũy dừa xanh soi bóng dịu hiền, bên cạnh mái đình làng đìu hiu cỏ phủ.

Bản vọng cổ 32 nhịp đầy đủ có 6 câu. Tức là ngắn hơn các bản nhịp tám thường có 20 câu. Tuy nhiên, ngay cả 6 câu cũng có khi không sử dụng hết. Bản vọng cổ khi ghi ra giấy, do đó, thường có đánh số câu để người nghệ sĩ biết bản nhạc sử dụng câu nào. Hai câu 1 và 4 thường chỉ có 16 nhịp cuối câu.

Khi bản vọng cổ đã tới 32 nhịp, nhiều soạn giả chêm vô những câu nói giặm. Để nghệ sĩ vô ca vọng cổ cho êm, soạn giả cũng thường gối đầu bằng một khúc nói lối văn xuôi, những câu nói lối văn vần (lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, hoặc cả thơ mới), hoặc một bản ngắn cổ điển như Lưu thủy, Hành vân, Sương chiều, hoặc tiêu biểu là Lý con sáo.

Sáu câu vọng cổ ngày nay.

Chính nhờ được mọi ngườI ưa thích, dễ đi vào long người nên ca vọng cổ hay, sớm nổI tiếng. Trong mọi trường hợp đàn cũng như hát, muốn biểu diễn thành công bản vọng cổ cần có hai yếu tố: TÌNH CẢM và KỸ THUẬT không nên xem nhẹ mặt nào. Có tình cảm nhưng kỹ thuật yếu thì sức thuyết phục không lớn. Kỹ thuật giỏI nhưng thiếu tinh cảm thì khó đi vào lòng người.

Cũng như những bài bản thông thường khác của cải lương, nhưng nhờ ưu thế của mình, bài vọng cổ đã được ngườI ta coi trọng, chú ý cảI biên cách tân, luôn tìm cách đổI mớI. Thay đổi hình thức biểu diễn… từ 20 câu rút ngắn còn 12 câu, 6 câu rồI 4 câu có nhạc mớI (còn gọI là tân cổ giao duyên) mà vẫn giữ được sắc thái bài vọng cổ, một bài hát được mọI ngườI ưa thích.

Hiện nay chỉ với 6 câu vọng cổ mà hình thành nhiều phong cách đàn hát khác nhau một cách phong phú, đa dạng. Mỗi nghệ sĩ diễn viên nhờ năng khiếu và qua rèn luyện lao động nghệ thuật đã luôn phấn đấu không ngừng tạo cho mình một giọng hát riêng không trùng lặp ngườI khác.

Sáu câu vọng cổ như quy định dướI đây, mỗI câu có hai song loan, song loan giữa và song loan dứt.

CÂU 1

Gồm 16 nhịp (chỉ còn nửa câu). Nhịp bắt đầu tính sau lúc xuống giọng.

Chia làm 4 khuôn, mỗI khuôn 4 nhịp.

+Khuôn 5: Hò – 20

+Khuôn 6: Cống – 24 – SL giữa.

+Khuôn 7: Xang – 28

+Khuôn 8: Cống – 32 – SL dứt.

Chú ý: Khuôn 5, 8 bắt buộc đúng.


CÂU 2

Gồm 8 khuôn nhịp:

+Khuôn 1: Xề - 4

+Khuôn 2: Xang – 8

+Khuôn 3: Xang – 12

+Khuôn 4: Hò – 16

+Khuôn 5: Hò – 20

+Khuôn 6: Cống – 24 – SL giữa.

+Khuôn 7: Xang – 28

+Khuôn 8: Xang – 32 – SL dứt.

Chú ý: Khuôn 4, 5, 8 bắt buộc đúng.


CÂU 3

Gồm 8 khuôn nhịp:

+Khuôn 1: Xề - 4

+Khuôn 2: Xang – 8

+Khuôn 3: Xang – 12

+Khuôn 4: Cống – 16

+Khuôn 5: Xang – 20

+Khuôn 6: Cống – 24 – SL giữa.

+Khuôn 7: Xang – 28

+Khuôn 8: Hò – 32 – SL dứt.

Chú ý: Khuôn 8 bắt buộc đúng.


CÂU 4 (Đầy đủ)

Gồm 8 khuôn nhịp:

+Khuôn 1: Hò - 4

+Khuôn 2: Xề – 8

+Khuôn 3: Xề – 12

+Khuôn 4: Cống – 16

+Khuôn 5: Xang – 20

+Khuôn 6: Cống – 24 – SL giữa.

+Khuôn 7: Xang – 28

+Khuôn 8: Hò – 32 – SL dứt.

Chú ý: Khuôn 2, 3, 8 bắt buộc đúng.


CÂU 5

Gồm 8 khuôn nhịp:

+Khuôn 1: Xề - 4

+Khuôn 2: Hò – 8

+Khuôn 3: Hò – 12

+Khuôn 4: Hò – 16

+Khuôn 5: Hò – 20

+Khuôn 6: Cống – 24 – SL giữa.

+Khuôn 7: Xang – 28

+Khuôn 8: Xề – 32 – SL dứt.

Chú ý: Khuôn 4, 5, 8 bắt buộc đúng.


CÂU 6

Gồm 8 khuôn nhịp:

+Khuôn 1: Xề - 4

+Khuôn 2: Cống – 8

+Khuôn 3: Xang – 12

+Khuôn 4: Cống – 16

+Khuôn 5: Xang – 20

+Khuôn 6: Xề – 24 – SL giữa.

+Khuôn 7: Xang – 28

+Khuôn 8: Hò – 32 – SL dứt.

Chú ý: Khuôn 6, 8 bắt buộc đúng
Hình ảnhChào bạn! Chúc bạn nhiều may mắn và sức khỏe để tham gia và đóng góp thêm bài viêt cho diễn đàn!
Hình đại diện của thành viên
Admin
Site Admin
 
Bài viết: 948
Ngày tham gia: Tháng hai 26, 2012, 12:38 am
Đến từ thành phố: HCM City
Điểm (Points): 12
Giới tính: Nam (Male)
Handphone: 0

Cải lương, nghệ thuật sân khấu truyền thống Nam bộ Việt Nam

Gửi bàigửi bởi Admin » Tháng bảy 01, 2012, 5:37 pm

Cải lương, nghệ thuật sân khấu truyền thống Nam bộ Việt Nam

Tuy sanh sau đẻ muộn, so với Hát Chèo, Hát Bội (hát tuồng), Hát Cải lương trong một thời gian rất ngắn không hơn 80 năm đã đi một bước rất dài, đi sâu vào trong lòng người dân Nam bộ và đã trở thành một truyền thống vững chắc trong kịch nghệ Việt Nam.

Một bộ môn nghệ thuật được coi là "truyền thống" khi nào bộ môn ấy :
1. Do người Việt sáng tạo trên đất nước Việt Nam cho người Việt Nam.
2. Đã được cha truyền, con nối từ thế hệ này qua thế hệ khác
3. Đã chịu thử thách của thời gian
4. Hiện nay vẫn còn tồn tại và được người Việt Nam thưởng thức

1. Do người Việt sáng tạo trên đất nước Việt Nam cho người Việt Nam.

Dựa trên ý nghĩa Hán Việt của từ "Cải lương" chúng ta thấy cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn. Thực vậy, cải lương được thay đổi từ Hát Bội mà người ta gọi là Cải lương tuồng cổ. Người nghệ sĩ cải lương có cách múa, hát, mặc xiêm y giống như một sân khấu Hát Bội. Đây là sự thay đổi nhẹ nhàng, là khởi đầu của Cải lương. Cải lương là đổi cho đẹp hơn.

1. Sân khấu đổi mới. Có màn nhung phía trước sân khấu. Có décor fixe (bức phông có vẽ nhà cửa hoặc núi rừng tuỳ theo cảnh ở trong tuồng) và nhiều cánh gà vẽ những cảnh cung đình, hay rừng núi v.v…

2. Đề tài kịch bản: không phải chỉ lấy trong lịch sử Trung quốc hay Việt Nam, mà còn lấy trong các tiểu thuyết hay những cốt chuyện do tác giả kịch bản đặt ra

3. Nghệ thuật biểu diễn: Thật mà đẹp. Không còn ước lệ như trong hát bội. Dùng giọng thật, tự nhiên . Không có những giọng mé, giọng hầu v.v…

4. Dàn nhạc: Đàn kìm, đờn cò, đờn xến, ống sáo, ống tiêu. Sau nầy có thêm đờn tranh và từ mấy chục năm nay đàn Ghi ta phím lõm, và gần đây có cả synthetiseur. Trước kia khi đờn màn có kèn saxophone clarinettevà trống phương Tây.

5. Bài bản: Các bản đờn trong truyền thống tài tử: Bài Bắc nhỏ, các bài Nam, Xuân Ai Đảo, đặc biệt bài Dạ cổ hoài lang và sau nầy trở thành Vọng cổ. Và sau này có thêm những bài hơi Quảng , và những bản nhạc mới sáng tác theo phong cách cổ như loại Trăng Thu Dạ Khúc.

Theo một số nhà nghiên cứu, tiền thân của Cải Lương là nhạc tài tử biến thành "ca ra bộ" tại nhà Ông Cai tổng Tống Hữu Định (Ông Phó 12) tại Vĩnh Long năm 1917. Khi ca bài Tứ đại Oán với tích Bùi Kiệm thi rớt trở về, Cô Ba Định, vai Nguyệt Nga, ông Giáo Diệp Minh Ký đóng vai Bùi Kiệm, ông Giáo Du, vai Bùi ông, vừa ca vừa ra bộ. Và từ đó đã sanh ra loại "Ca ra bộ" và sau nầy trở thành Hát cải lương .

Theo tài liệu của cháu Mai Mỹ Duyên, Trưởng phòng nghiên cứu của Sở Văn Hoá Thông tin Tiền Giang, "Ca ra bộ" đã do Nhạc sư Nguyễn Tống Triều (ông Tư Triều) tại Cái Thia chế ra từ năm 1916.

Năm 192O Gánh Tân Thinh có 2 câu đối treo trước sân khấu:
[align=center]Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh[/align]


2. Đã được cha truyền, con nối từ thế hệ này qua thế hệ khác

Thật vậy, nhìn lại nghệ thuật sân khấu Cải lương, chúng ta không thể nào quên những nghệ sĩ lão thành có mặt từ đầu bộ môn nghệ thuật này, như kép Bảy Thông, đào Năm Thoàn trong gánh Cải Lương của Thày Năm Tú ở tại Mỹ Tho, như Năm Châu, Phùng Há, Năm Phỉ, Bảy Nam, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Út Trà Ôn ... Những người nghệ sĩ này đã truyền nghề cho một thế hệ không kém nổi tiếng mà ngày này không ai là không biết đến như NSUT Kim Cương, nghệ sĩ Duy Lân, nghệ sĩ Thành Được, nghệ sĩ Út Bạch Lan, nghệ sĩ Hữu Phước, NSND Thanh Tòng, NS Việt Hùng ... Sau nữa còn có NS Hùng Cường, NSUT Bạch Tuyết, NS Thanh Sang, NSUT Ngọc Giàu, NSUT Lệ Thuỷ, NS Mộng Tuyền, NS Đỗ Quyên, NS Hoài Thanh ... Và tiếp theo sau là thế hệ mới ngày nay người ta không thể quên có một Hương Lan (con gái nghệ sĩ Hữu Phước), Vũ Linh, Tài Linh, Ngọc Huyền, Kim Tử Long ... Bây giờ đã có Quế Trân (con gái nghệ sĩ Thanh Tòng), Thi Trang, Lê Tứ ... trong số nghệ sĩ Lão thành và trẻ tuổi mà chúng tôi không thể kể hết.

Như thế, "Cải lương" quả đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cải lương cũng đã được thay đổi qua nhiều thế hệ, chịu thử thách với thời gian, với nhiều thử nghiệm mà "hình thức cải lương" đứng ở vị trí nào phù hợp thì được tồn tại và phát triển, còn "hình thức cải lương" nào không phù hợp, không được quần chúng ủng hộ thì bị đào thải. Đó chúng tôi gọi là tánh chất "Động" và "Mở" của cải lương .....

Điểm sơ qua một số gánh hát Cải lương được thành lập từ những ngày đầu và những phong cách dàn dựng sân khấu, biên soạn kịch bản, chúng ta thấy rằng Cải lương đã có một bề dày lịch sử:
1920: Ba gánh Tân Thinh, Văn Hí ban, Tập ích Ban
1925: Phước Cương
1927: Phụng Hảo (Cô 7 Phùng Há) và Gánh Đồng Nữ Ban của Bà Trần Ngọc Viện (rất đặc biệt vì gánh hát diễn viên toàn là nữ giới mà tiền lời của vé thâu, sau khi trang trải cho gánh thì được chuyển đến giúp những đoàn thể Cách Mạng)
1934: Sau loại Tuồng Cổ có thêm Tuồng Phật
1936: Tuồng Tiên, Phong Thần
1937: Tuồng La Mã
1947: Tuồng "Cắc bùm"
1948: Việt Kịch Năm Châu : Tuồng Xã hội
1953: Gánh Năm Châu dựng tuổng “Tây Thi gái nước Việt”
1960: Cải lương Hồ Quảng

Nhiều gánh nổi tiếng Thanh Minh-Thanh Nga, Kim Chung ...

Sau ngày Đất nước thống nhứt: Sài gòn 1, Sài gòn 2, Trần Hữu Trang ...

3. Đã chịu thử thách của thời gian

Trải qua nhiều thế hệ, từ đầu những năm của thế kỷ 20, Cải lương vẫn liên tục thay đổi cho ngày một hay hơn nhưng phù hợp với phong cách thưởng ngoạn nghệ thuật của quần chúng Nam bộ.

Liên tục có nhiều gánh Cải lương được thành lập, những vở tuồng được dàn dựng. Hiện tại nhà nhiếp ảnh, nhà báo, nhà văn Huỳnh Công Minh còn lưu trữ hơn 500 phim chụp lại những vở tuồng đã được biểu diễn có đủ tên tác gỉa kịch bản, nơi biểu diễn, tên rạp hát, tên gánh hát, tên của ông/ bà bầu và tên của các diễn viên chánh. Nếu kể thêm các vở tuồng mà không được ghi lại thì chúng ta còn có thể có nhiều hơn nữa. Sau bao nhiêu lần biến chuyển và định hình, Cải lương vẫn còn giữ được bản sắc của nó mà điển hình cho đến ngày nay người ta vẫn diễn và thưởng ngoạn lại những vở tuồng kinh điển như : Đời Cô Lựu (Trần Hữu Trang), Sân khấu về khuya ( Năm Châu) ...


4. Hiện nay vẫn còn tồn tại và được người Việt Nam thưởng thức

Ngày nay người ta vẫn yêu mến bộ môn này bởi vì bên cạnh những sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạc trẻ, sân khấu nghệ thuật Cải lương đã luôn định hình trong lòng khán gỉa và còn tiếp tục đi tới trong việc bảo tồn, lưu giữ. Trong mấy năm sau này, những nghệ sĩ như Thanh Tòng, Út Bạch Lan, Bạch Tuyết ... có tổ chức những đêm Cải lương diễn lại trích đoạn của nhiều tuồng đã được khán gỉa yêu chuộng và đã thu hút rất nhiều khán giả hâm mộ Cải lương. Những chương trình truyền hình như Cánh chim không mỏi, Vầng trăng Cổ nhạc được đông đảo khán giả theo dõi. Hai đài truyền hình HTV7 và HTV9 thường xuyên phát sóng nhiều vở tuồng Cải lương mới, cũ.

Có dịp ra nước ngoài, người ta vẫn nghe tiếng hát của các nghệ sĩ trẻ Việt kiều hát Cải lương hoặc bà con ở hải ngoại sẵn sàng bỏ một buổi làm việc để mua được tại phòng vé một chỗ xem trình diễn "Cải lương" mà nghệ sĩ từ Việt Nam qua biểu diễn. Đặc biệt bên Pháp và bên Mỹ, Cải lương rất thịnh hành. Nhiều nghệ sĩ Cải lương tại hai nước đó, chẳng những diễn lại những vở tuồng xưa mà gần đây đã dàn dựng những vở mới.

Kết luận:

Cải lương có khả năng thực hiện những đề tài mới do tánh cách động (đôi khi không khéo áp dụng, thì “ Động” thành “Loạn”) đã là một nghệ thuật dân gian, xuất phát từ miền Nam và lần lần được dân tộc cả 3 miền ưa thích. Những đề tài mới này không những lựa đề tài trong lịch sử của Trung quốc hay của Việt Nam mà còn có cả nhiều đề tài khác như tệ đoan trong xã hội ( "tứ đổ tường"), đề tài về tình yêu, về gia đình, về chiến tranh, về tôn giáo và tín ngưỡng ...

Cải lương dễ chấp nhận những phong cách biểu diễn mới du nhập những cách múa của hát Tiều, hát Quảng kể cả những làn điệu của phương Tây hay các nước Nhựt Bổn, Trung Quốc ... nhưng nếu không phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của người Việt Nam Nam bộ thì các phong cách và bài bản ấy đều bị sa thải.

Mặc dầu đã chuyển hướng bao nhiêu lần, Cải lương được định hình trong những năm gần đây, tìm lại bản sắc dân tộc Việt Nam. Như Cải lương Hồ Quảng lúc đầu thường dùng nguyên những làn điệu Quảng Đông như "Phảnh phá", " Chống bản", còn Hồ Quảng ngày nay có những bài mới do người Việt sáng tác có chút hơi Quảng của nhạc tài tử.

Tuy thời gian từ lúc thành lập đến nay chưa đầy một thế kỷ nhưng số kịch bản và gánh hát cho chúng ta thấy rằng sau bao nhiêu thử thách và thay đổi Cải lương ngày nay đã rút bao nhiêu kinh nghiệm và những vở tuồng của soạn giả Lê Duy Hạnh cho chúng ta được một chút lạc quan rằng Cải lương đang tiến đến một hình thức nghệ thuật sân khấu, đẹp trong hình thức lẫn nội dung và mang tính truyền thống đặc biệt của người dân Nam bộ.


[align=right]Bình Thạnh, Mùa hè năm Quý Hợi
Ngày 14-06-2007
Trần Văn Khê[/align]
Hình ảnhChào bạn! Chúc bạn nhiều may mắn và sức khỏe để tham gia và đóng góp thêm bài viêt cho diễn đàn!
Hình đại diện của thành viên
Admin
Site Admin
 
Bài viết: 948
Ngày tham gia: Tháng hai 26, 2012, 12:38 am
Đến từ thành phố: HCM City
Điểm (Points): 12
Giới tính: Nam (Male)
Handphone: 0


Quay về ÂM NHẠC (Music)

Points: 0

cron